• To be BRAVE is to behave bravely when your heart is faint.
  • So, you can be really brave only when you really ain't.
  • ------------------------- Piet Hein (1905)---------------------
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên lý cấu tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên lý cấu tạo. Hiển thị tất cả bài đăng

1 tháng 1, 2010

Bộ phận phụ


CÁC BỘ PHẬN PHỤ


BẾP LÒ –

TOA KHÓI -

ỐNG KHÓI


ỐNG ĐỔ RÁC




Trong các nhà nhiều tầng, cao tầng thường bố trí ống đổ rác, đặt ở nơi công cộng trong công trình. Nhưng vị trí đặt phải kín đáo, hợp lý.

Có thể xây gạch hoặc đổ bêtông cốt thép. Kích thước ống đổ rác phụ thuộc vào số lượng người sử dụng. Kích thước tối thiểu mỗi chiều là 300-500. Mỗi tầng nhà đều có cửa đổ rác và luôn đậy kín. ống đổ rác phải thông lên mái để thoát hơi


GỜ - PHÀO - CHỈ

Có thể làm bên trong và ngoài công trình, có tác dụng bảo vệ và trang trí cho công trình. Khi thiết kế cần tránh vụn vặn, chắp vá.

Gờ phào chỉ có thể đắp vữa, xây bằng gạch, đổ bêtông hoặc, bằng thạch cao hoặc bằng gỗ. Kiểu dáng, vật liệu làm gờ phào chỉ có thể lựa chọn tuỳ theo tính chất, yêu cầu của công trình.


BỂ NƯỚC NGẦM

Bể chứa nước ngầm có thể xây bằng gạch đặc hoặc đổ bêtông cốt thép. Có thể xây ngầm dưới công trình hoặc xây nửa nổi nửa chìm.

Gạch xây bể phải dùng gạch đặc mác 75, vữa ximăng mác 50-75. Trước khi xây gạch phải được ngâm nước kỹ, mạch no vữa, xây theo kiểu chữ công. Chiều dày tường bể phụ thuộc vào thể tích chứa nước của bể. Đáy bể có thể làm bằng gạch đặc mác 75, bêtông gạch vỡ dày 150-200 hoặc bêtông cốt thép đổ tại chỗ. Nắp bể có thể làm bằng tấm đan bêtông cốt thép hoặc đổ tại chỗ, phải bố trí nắp thăm bể có kích thước tối thiểu 500´500.

Bên ngoài thành bể trát vữa ximăng mác 50, dày 15. Thành bể và đáy bể trát vữa ximăng mác 75, dầy 25, trát làm hai lần, lần đầu dầy 15 có khía bay, lần sau dày 10, sau đó đánh màu bằng ximăng nguyên chất. Đáy bể phải láng dốc về phía rốn bể có kích thước tối thiểu 250´250.


BỂ NƯỚC MÁI

Bể chứa nước trên mái có thể xây bằng gạch đặc hoặc đổ bêtông cốt thép.

Gạch xây bể phải dùng gạch đặc mác 75, vữa ximăng mác 50-75. Khi xây mạch phải no vữa, xây theo kiểu chữ công. Chiều dày tường bể phụ thuộc vào thể tích chứa nước của bể. Đáy bể đổ bêtông cốt thép đổ tại chỗ, cách sàn mái khoảng 300-400 để tránh nước thấm từ bể xuống. Nắp bể có thể làm bằng tấm đan bêtông cốt thép hoặc đổ tại chỗ, phải bố trí nắp thăm bể có kích thước tối thiểu 500´500.

Bên ngoài thành bể trát vữa ximăng mác 50, dày 15. Thành bể và đáy bể trát vữa ximăng mác 75, dầy 25, trát làm hai lần, lần đầu dầy 15 có khía bay, lần sau dày 10, sau đó đánh màu bằng ximăng nguyên chất. Đáy bể phải láng dốc về phía rốn bể có kích thước tối thiểu 250´250.



BỂ PHỐT

Bể phốt thường được đặt dưới phòng vệ sinh. Cấu tạo như bể nước ngầm.

Gạch xây bể phải dùng gạch đặc mác 75, vữa ximăng mác 50-75. Trước khi xây gạch phải được ngâm nước kỹ, mạch no vữa, xây theo kiểu chữ công. Chiều dày tường bể phụ thuộc vào thể tích chứa nước của bể. Đáy bể có thể làm bằng gạch đặc mác 75, bêtông gạch vỡ dày 150-200 hoặc bêtông cốt thép đổ tại chỗ. Nắp bể có thể làm bằng tấm đan bêtông cốt thép hoặc đổ tại chỗ, sau đó dùng nhựa đường đổ bít khe hở giữa những tấm đan bêtông cốt thép lắp ghép.

Bên ngoài thành bể trát vữa ximăng mác 50, dày 15. Thành bể và đáy bể trát vữa ximăng mác 75, dầy 25, trát làm hai lần, lần đầu dầy 15 có khía bay, lần sau dày 10, sau đó đánh màu bằng ximăng nguyên chất. Đáy bể phải láng dốc về phía rốn bể có kích thước tối thiểu 250x250.

Cách tính dung tích khối bể phốt.

* Bể phốt bán tự hoại.

Dung tích khối của bể phốt: ngăn chứa + ngăn lắng. (W = W1 + W2).

Trong đó: W1 = 90.N.n (m3)

W2 = N.30 lít = N.0,030 (m3)

- W1: dung tích phần chứa nước (m3)

- W2: dung tích phần chứa bùn của N người trong 3 tháng.

- 0,030 (m3) là dung tích bùn của 1 người trong 3 tháng.

- 90 là tiêu chuẩn dùng nước của một người.

- N là số người sử dụng.

- n là số ngày để nước dừng lại trong bể.

* Bể phốt tự hoại.

Dung tích khối của bể phốt: ngăn chứa + ngăn lắng.

Số người sử dụng tiêu chuẩn dưới 6 người.

6 ´ 0,250 m3 = 1,500 m3

Số người sử dụng tiêu chuẩn trên 6 người thì:

- Người thứ 7-50: lấy 0,200 m3/người.

- Người thứ 51 trở lên: lấy 0,160 m3/người.

Dung tích khối của ngăn lọc.

- Dung tích khối của vật liệu lọc lấy 0,110 m3/ người sử dụng.

- Diện tích tiết diện ngang bể lọc lấy 0,110m2/người sử dụng.



14 tháng 10, 2009

Móng - Phân loại móng


PHÂN LOẠI MÓNG

Hiện nay có nhiều cách và nhiều tiêu chuẩn phân loại.

1. Theo vật liệu:

  • Móng cứng:

- Móng được tạo với các vật liệu chịu lực nén đơn thuần như móng gạch, móng đá hộc, móng đá hộc và bê-tông.

- Quy ước: tỉ số chiều cao/chiều rộng của khối móng >1/3; tải trọng tác động từ trên xuống sau khi truyền qua móng sẽ được phân phối lại trên đất nền.

- Áp dụng ở nơi nước ngầm ở dưới sâu.

  • Móng mềm

- Được tạo với vật liệu chịu kéo, nén và uốn.

- Đặc điểm: móng biến dạng gần như nền, không làm nhiệm vụ phân phối lại áp lực.

- Móng bê-tông cốt thép là loại móng vừa bị biến dạng khá nhiều là vừa có khả năng phân bố lại áp lực trong đất nền vừa có cường độ cao vừa chống xâm thực tốt.

- Cấu tạo theo yêu cầu tạo hình bất kỳ, tiết kiệm vật liệu, thi công nhanh khi dùng giải pháp thi công lắp ghép.


2. Theo hình thức chịu lực:

  • Móng chịu tải đúng tâm

- Đặc điểm: móng đảm bảo hướng truyền lực từ trên xuống trùng vào phần trọng tâm của đế móng.

- Đáp ứng được yêu cầu chịu lực tốt nhất cùng sự phân phối lực đều dưới đáy móng.

  • Móng chịu tải lệch tâm

- Đặc điểm: hợp lực của các tải trọng không đi qua trọng tâm của mặt phẳng đáy móng; móng có kết cấu phức tạp.

- Áp dụng ở những vị trí đặc biệt như ở khe lún, giữa nhà cũ và nhà mới...


3. Theo hình thể móng:

  • Móng cột (móng độc lập/chiếc/ côi)

- Móng riêng biệt, chịu tải trọng tập trung.

- Gối móng được chế tạo theo khối lập phương / tháp cụt / dật cấp;

- Vật liệu bằng gạch, đá, bêtông hoặc bêtông cốt thép.

  • Móng băng

- Móng chạy dài dọc dưới chân tường hoặc tạo thành dải dài liên kết các chân cột. Chiều dài của móng >>> chiều rộng.

- Truyền tải trọng tương đối đều xuống nền

- Vật liệu: gạch, đá, bêtông, BTCT. Tiết diện móng thường có hcn, h.thang hay giật cấp.

- Áp dụng cho các công trình dân dụng nhiều tầng kiểu khung và công trình công nghiệp.


  • Móng bè (móng toàn diện)

- Đặc điểm: diện tích đáy móng = diện tích xây dựng.

- Áp dụng khi sức chịu tải của đất nền quá yếu so với tải trọng của công trình và

- Áp dụng khi bề rộng của các đáy móng chiếc hoặc móng băng gần sát nhau, gây nên hiện tượng chồng áp suất trong đất nền.

  • Móng cọc

- Gồm có cọc và đài cọc.

- Khi nền đất yếu phải chịu tải trọng lớn của công trình người ta dùng móng cọc.

- Vật liệu: cọc tre, gỗ, bêtông cốt thép.

- Móng cọc chia ra làm hai loại: móng cọc chống và móng cọc ma sát.

*/* Móng cọc chống được dùng trong trường hợp dưới lớp đất yếu là lớp đất rắn (đá); đầu dưới cọc đóng chặt vào lớp đất rắn và truyền tải trọng vào nó. Nền móng cọc chống không bị lún hoặc lún không đáng kể.

*/* Móng cọc ma sát được dùng trong trường hợp lớp đất rắn nằm ở quá sâu. Cọc ma sát truyền tải trọng công trình vào đất qua lực ma sát giữa đất và bề mặt của cọc.


4. Theo đặc tính chịu tải

  • Chịu tải trọng tĩnh

- Móng sẽ chịu tác động của

(1) tải trọng thường xuyên liên tục khi thi công hoặc

(2) khi chịu trọng lượng bản thân của các bộ phận và

(3) áp lực của đất.

- Hầu hết các loại móng nhà DD đều được tính toán và chọn lựa để đáp ứng yêu cầu chịu tải trọng tĩnh.

  • Chịu tải trọng động

- Là loại móng chịu tải trọng tạm thời có thể không xuất hiện vào các thời kỳ nhất định như: tải trọng gió, áp lực sóng biển, đặc biệt là động đất và sự rung của móng.

- Giải pháp móng đặc biệt được chọn áp dụng trong trường hợp này là loại móng máy, móng chống chấn động.


5. Theo vị trí

- Móng tường giữa: nằm ở vị trí hai bên là nền nhà (hình 2.07).

- Móng tường biên: nằm ở vị trí một bên là nền nhà, một bên là hè rãnh (hình 2.08).

- Móng khe lún: nằm ở vị trí khe lún của công trình (hình 2.09).


- Móng bó hè (bó nền): nằm ở vị trí hành lang, có tác dụng chắn đất đắp của nền nhà. (hình 2.10).

- Móng cấu tạo (tường ngăn): nằm ở vị trí dưới tường ngăn có bề dày 105, cao trên 2000 hoặc sát trần (hình 2.11 - 2.12).


6. Theo phương cách cấu tạo

  • Móng toàn khối: móng được xây/ đúc ngay tại hiện trường.
  • Móng lắp ghép: các bộ phận của móng bằng bê tông cốt thép được chế tạo trước tại cơ xưởng.

7. Theo phương pháp thi công

  • Móng nông:

- Móng được xây hay đúc hoàn toàn trong hố móng đào với chiều sâu chôn móng <>

- Áp dụng cho các công trình kiến trúc nhẹ hoặc trên đất nền có sức chịu tải cao ở ngay trên mặt.

- Hình thức móng được ứng dụng trong trường hợp này là móng băng, móng chiếc, móng bè.

  • Móng sâu:

- Là loại móng khi thực hiện không cần đào hoặc chỉ đào một phần hố móng, sẽ dùng giải pháp cấu tạo để chuyển tải trọng từ trên xuống thông qua móng vào đất nền, đạt chiều sâu thiết kế như giải pháp mòng trên cọc, móng trên giếng chìm.

- Áp dụng trong trh tải trọng công trình tương đối lớn nhưng lớp đất nền chịu tải lại ở dưới sâu.

  • Móng dưới nước:

- Thực hiện trong vùng đất ngập nước như: ao hồ, sông, rạch, biển.

- Phương pháp: xây bờ bao kín nước bao quanh vị trí công trình à bơm thoát nước làm khô để thi công móng.

Móng - Các bộ phận của móng


Móng..
  • Là bộ phận được cấu tạo ở phần thấp nhất của công trình nằm dưới mặt đất.
  • Toàn bộ công trình đặt trên móng và thông qua móng tải, trọng truyền đều xuống đất nền chịu tải.

Các bộ phận của móng

  • Tường móng:

- Là bộ phận có tác dụng chuyển lực từ trên xuống chống lực đạp của nền nhà hoặc lực đẩy của khối đất và nước ngầm bao quanh tầng hầm.

- Thường được cấu tạo dày hơn tường nhà nên nhô ra hơn chân tường nhà, tạo cảm giác chắc chắn và bề thế cho nhà.

  • Đỉnh móng = mặt tiếp xúc giữa móng với tường móng hoặc kết cấu công trình
  • Gờ móng:

- Là một phần bề mặt của đỉnh móng giới hạn từ mép ngoài của đỉnh đến đáy công trình,

- Tạo điều kiện thi công phần trên được chính xác theo vị trí thiết kế.

  • Gối móng:

- Là bộ phận chịu lực chính của móng,

- Được cấu tạo theo tiết diện chữ nhật hoặc hình tháp hay dậc bậc nhằm giảm dần áp suất truyền tải đến đáy móng. Đồng thời với yêu cầu,.

  • Đáy móng = mặt tiếp xúc nằm ngang giữa móng và đất nền. đáy móng phải mở rộng hơn nhiều so với phần công trình tiếp xúc với móng và cường độ của đất nền thường nhỏ hơn nhiều so với vật liệu xây dựng công trình
  • Lớp đệm = lớp có td làm chân đế, được làm phẳng nhằm phân đều áp suất dưới đáy móng. Vật liệu được dùng là bê-tông gạch vỡ hoặc đá (mác 25#, 50#, 75#) dày 10 – 15cm hoặc là lớp cát dầm nén chặt.
  • Chiều sâu chôn móng = khoảng cách từ đáy móng đến mặt đất tự nhiên hoặc mặt đất thực hiện. Trị số được chọn sẽ tuỳ thuộc tình hình đất đai, tính chất của nước ngầm, khí hậu, lực tác động từ ngoài, đặc điểm của bản thân công trình, kết cấu móng và phương pháp thi công cùng tình trạng của các công trình kế cận nếu có.

3 tháng 10, 2009

Nền móng - Ploại & các pp gia cố


Nền móng (đất nền).. là lớp đất nằm dưới móng chịu toàn bộ hoặc phần lớn tải trọng của công trình, còn được gọi là đất nền.

CÁC LOẠI NỀN MÓNG

Được chia làm 2 loại (căn cứ vào tài liệu thăm dò địa chất và thử nghiệm cùng tính toán để xử lý nền móng)

  • Đất nền tự nhiên = đất nền có đủ khả năng chịu lực – các lớp đất của chúng vẫn ở nguyên thế nằm cũ khi chịu tải. Ưu điểm loại đất này là thi công đơn giản, nhanh (chỉ cần đào rãnh móng hoặc hố móng phẳng hay hình thang hơi dốc và trải một lớp cát đệm dưới móng → giá thành hạ.
  • Đất nền nhân tạo = đất nền yếu, không đủ khả năng chịu lực, cần cải tạo, gia cố để nâng cao cường độ, sự ổn định, đồng thời giảm tính thấm nước của đất nền… đảm bảo y/c chịu tải từ móng xuống.

CÁC PP GIA CỐ ĐẤT NỀN

Tuỳ theo các đk cơ cấu địa chất và thuỷ văn, có 5 pp gia cố:

1. Nén chặt đất:

· Nén bằng đầm nện – dùng đầm hay các tấm nặng để đầm chặt đất ở hố móng. Có thể trải thêm đá sỏi, đá dăm để tăng cường khả năng chịu lực của đất.

· Nén bằng cọc đất – đóng lỗ để tạo ra quanh lỗ vùng nén chặt → nhồi đất vào lỗ và đầm chặt. Áp dụng cho trh đầm chặt đất lún ướt dưới sâu.

· Hạ mực nước ngầm – tạo hệ thống giếng thu nước hay hệ thống ống tiêu nước có cấu tạo đặt biệt “ống châm kim” → rồi dùng bơm hút nước ra. Đất trong phạm vi thđổi của mực nước ngầm sẽ được nén chặt lại do áp lực nén tăng lên một cách tương đối. Thêm vào đó, đất sẽ lại chặt hơn nữa do nhờ áp lực thuỷ động hướng xuống.

2. Phương pháp thay đất:

· Lớp đất yếu sẽ được bốc dời đi và thay bằng lớp đất khác/ sỏi, cát.

· Áp dụng khi lớp đất yếu ở trong phạm vi không quá lớn với độ sâu nhỏ.

3. Phương pháp keo kết

· PP: dùng các vật liệu liên kết bơm phụt vào trong đất để

---- Nâng cao khả năng chịu lực của đất,

---- Đồng thời làm cho đất không thấm nước.

· Áp dụng đối với tầng đất có khả năng thẩm thấu nhất định.

3.1 – Ciment hoá, sét hoá và bitum hoá :

- PP : vữa ciment được phụt vào đất để gia cố đất nền cát, đất cuội sỏi, đất nền nứt nẻ, đồng thời để xây dựng các màn chống thấm.

- Để tăng cường nhanh quá trình đông kết hoá cứng của dung dịch ciment, dùng thuỷ tinh lỏng và Cloruc canxi.

- Để tăng cường ổn định, dùng Betonite.

- Bitum hoá : bơm bitum nóng, là pp phụ trợ để lấp nhét các khe nứt lớn trong đá cứng – ngăn chặn sự sói mòn của ciment và sét khi tốc độ chảy của nước lớn.

3.2 – Silicat hoá và nhựa hoá:

- Thường dùng dd Silicat Na và Clorua Ca cho loại đất có hệ số thấm cao; chỉ dùng Silicat Na cho đất có hệ số thấm thấp.

- Áp dụng để gia cố và tạo các màn chống thấm cho các loại đất có nền cát, đất hoàng thổ và đất lún ướt.

4. Phương pháp đóng cọc

· Dùng cọc gỗ/ tre/ thép/ bê-tông cốt thép/ có khi dùng cọc cát đóng xuống đất nền

· Việc đóng cọc làm đất nén chặt hoặc do ma sát giữa cọc và đất làm cho mức chịu tải của đất nền tăng lên. Tuỳ theo cách làm việc của cọc, phân ra 2 loại:

4.1 – Cọc chống: cọc được đóng xuyên qua lớp đất nền bên trên và trực tiếp truyền tải trọng lên lớp đất cứng phía dưới.

4.2 – Cọc ma sát:

- Cọc được đóng đến vị trí lưng chừng trong lớp đất mềm.

- Tác dụng chủ yếu: lực ma sát giữa thân cọc và đất sẽ chống đỡ công trình hoặc làm chặt đất.

- Các công trình dân dụng nước ta thường dùng cọc tre/ tràm. Mật độ trung bình: 25 cọc/m2; ø 80 – 100mm; dài 2,5m (tre) và 4 – 5m (tràm)

5. Phương pháp điện và nhiệt:

· Ứng dụng hiện tượng điện thấm để tập trung, bớm hút nước làm khô đất; đồng thời đưa dung dịch hoá chất vào để làm chắc đất. Các ứng dụng:

· Hạ mực nước ngầm:

- Cho một dòng điện 1 chiều trong đất nền khó thấm, có hệ số thấm: 0,05m/ngày đêm (đất chứa nhiều hàm lượng sét hoặc đất có bồi tích)

- Lực điện thấm sẽ xuất hiện và khối nước ngầm sẽ được bơm thoát từ hệ thống giếng hoặc ống châm kim.

· Điện thấm Silicat hoá:

- Áp dụng cho những loại đất có tính thấm nhỏ (đất dính, đất bùn)

- Dưới tác dụng của áp lực bơm phụt và hiện tượng điện thấm, dd Silicat Na sẽ thấm vào đất nền dễ dàng.

· Phương pháp nhiệt

- Ngtắc: chuyển điện năng thành nhiệt lượng, nung đất nền thành những cọc đất nung dưới móng. Cách khác: bơm hơi nhiệt độ cao vào các lỗ đã khoan sâu. Các lỗ khoan sau đó được trám kín bằng bê-tông hay đắp kín bằng đất.

- Áp dụng chủ yếu với đất nền lún ướt, ít ẩm, có tính thấm vừa phải.