• To be BRAVE is to behave bravely when your heart is faint.
  • So, you can be really brave only when you really ain't.
  • ------------------------- Piet Hein (1905)---------------------
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải pháp kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải pháp kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

10 tháng 2, 2010

Sàn rỗng Bubbledeck


BubbleDeck là công nghệ sàn có nhiều cải tiến thuận lợi hơn trong xây dựng khi sử dụng các quả bóng bằng nhựa tái chế để thay thế phần bêtông không tham gia chịu lực ở thớ giữa của bản sàn. Công nghệ này làm giảm đáng kể trọng lượng bản thân kết cấu và tăng khả năng vượt nhịp (khẩu độ) thêm khoảng 50%. Với sàn BubbleDeck (BD) phẳng, không cần dầm; liên kết trực tiếp với hệ cột, vách chịu lực và nhiều ưu điểm về kỹ thuật khác.

Công nghệ tấm sàn rỗng chịu lực theo hai phương

Công nghệ này có nguyên tắc cấu tạo cơ bản là tấm lưới thép dưới, bóng rỗng làm từ nhựa tái chế và tấm lưới thép trên. Hệ sàn BD dựa trên công nghệ tổng hợp đã được cấp bằng sáng chế – phương pháp liên kết trực tiếp khối rỗng và thép. Sàn rỗng làm việc hai phương, trong đó các quả bóng nhựa có vai trò giảm thiểu lượng bêtông không cần thiết đối với kết cấu. Bằng cách phối hợp lỗ rỗng tạo ra do trái bóng và chiều rộng của lưới thép; kết cấu bêtông có thể được tối ưu hoá và tối đa việc sử dụng đồng thời các vùng chịu moment uốn và vùng chịu lực cắt.

Kỹ sư Phạm Đắc Nhân thuộc công ty dịch vụ BubbleDeck Việt Nam cho biết, một tấm sàn đặc sẽ gặp rất nhiều vấn đề khi phải vượt nhịp lớn do ảnh hưởng của trọng lượng bản thân. Ưu thế chính của các quả bóng là giảm trọng lượng của tấm sàn. Tải trọng bản thân của sàn BD chỉ bằng 1/3 lần tấm sàn đặc có cùng độ dày và không có ảnh hưởng cường độ uốn và độ võng của tấm sàn. So với tấm sàn đặc, một tấm sàn BD có khả năng chịu lực gấp đôi với 65% lượng bêtông và có cùng khả năng chịu lực với 50% lượng bêtông.

Các dạng sàn và những ưu điểm

Có ba dạng cấu kiện, tấm BD đơn giản được cấu tạo bởi lưới thép dưới, quả bóng và lưới thép trên sau đó sẽ được đổ bêtông tại công trường trên hệ ván khuôn truyền thống. Dạng thứ hai là tấm BD bán lắp ghép có phần dưới của trái bóng và lưới thép dưới được đổ bêtông tại xưởng dày 60mm, phần bêtông đúc sẵn này sẽ thay thế cho ván khuôn tại công trường. Và thứ ba là tấm BD thành phẩm dưới dạng các tấm đúc sẵn toàn khối có thể được cung cấp để thực hiện lắp ghép tại công trường. BD được sản xuất theo sáu dạng tiêu chuẩn theo độ dày tấm sàn (mm): 170 – 230 – 280 – 340 – 390 – 430.

Việc sử dụng BD giúp cho thiết kế kiến trúc linh hoạt hơn, không gian rộng hơn – dễ dàng lựa chọn các hình dạng. Phần mái và độ vượt nhịp lớn sẽ cho diện tích sàn rộng hơn với ít điểm chống đỡ – không dầm, không tường chịu tải và ít cột làm cho thiết kế nhà sinh động và dễ thay đổi. Cũng có thể thay đổi phần thiết kế nội thất trong suốt “vòng đời” của công trình.

Những thông số kỹ thuật đã thí nghiệm và thực nghiệm

Mặt cắt của BD cũng tương tự như những tấm sàn rỗng theo một phương thông thường đã được sử dụng trong 40 năm qua. Tuy nhiên kết cấu của những tấm sàn loại này có nhược điểm là chỉ chịu lực theo một phương nên cần có dầm hoặc tường làm gối tựa suốt chiều dài ở cả hai đầu tấm sàn, vì thế khó thay đổi kết cấu của toà nhà.

Sàn công nghệ mới này có độ an toàn như không bắt cháy, ngăn khói và có thể chịu nhiệt cao hơn so với sàn đặc. Khả năng chịu lửa phụ thuộc vào lớp bêtông bảo vệ lưới thép gia cường. Lực động đất tác dụng lên công trình có giá trị tỷ lệ với khối lượng của toàn bộ công trình và BD đạt chỉ số an toàn do trọng lượng giảm. Sàn BD có khả năng chịu cắt, chịu uốn, cách âm vẫn cao hơn hệ sàn đặc truyền thống.

Về mặt kinh tế, công nghệ mới tiết kiệm vật liệu (tấm sàn, cột vách, móng) đến 50%. Tránh được việc hàn lưới thép ngay tại công trình; giảm mạnh chi phí vận chuyển; lắp dựng đơn giản; thiết kế công trình linh hoạt. Chi phí cho việc sửa chữa, thay đổi thấp và tuổi thọ công trình cao. Kết hợp các ưu điểm trên có thể tiết kiệm đến 5 – 15% chi phí cho toàn bộ công trình.

Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường cũng là lợi thế của công nghệ mới này. Tiết kiệm đến 50% lượng vật liệu xây dựng – 1kg nhựa thay thế hơn 100kg bêtông. Tiêu thụ ít năng lượng – cả trong sản xuất, vận chuyển và thực hiện; ít khí thải trong sản xuất và vận chuyển, đặc biệt là lượng CO2. Không sản sinh ra chất thải – tái sử dụng 100%. Cải thiện điều kiện làm việc, thời gian xây dựng ngắn, ít ảnh hưởng đến xung quanh, ít tiếng ồn trong sản xuất, vận chuyển và lắp dựng. Cũng như tiết kiệm vật liệu, việc giảm tiêu thụ năng lượng và giảm khí thải có thể đạt tới 50%.

Phạm vi ứng dụng sàn BD không giới hạn, từ nhà ở dân dụng, nhà xưởng công nghiệp, villa, khách sạn, cao ốc, trường học... cho đến khu bãi đậu xe đều đáp ứng tốt.

Kỹ sư, giáo sư Jorgen Breuning người Đan Mạch phát minh ra công nghệ
BubbleDeck đã được các nước trên thế giới cấp bằng sáng chế và đạt nhiều giải thưởng quốc tế. Trong bảy năm qua, chỉ riêng Đan Mạch và Hà Lan có hơn 1 triệu m2 sàn sử dụng công nghệ BD đã được thi công. Công nghệ này đã từng tổ chức hội thảo tại đại học Bách khoa TP.HCM. Và chính ông Breuning đến giảng dạy, chuyển giao công nghệ này cho công ty BubbleDeck Việt Nam (số 48/10 Điện Biên Phủ, P.22, Q. Bình Thạnh, ĐT: 08. 35106304). Công trình đầu tiên ứng ;dụng công nghệ BD tại Việt Nam là toà nhà CDC ở Hà Nội, hoàn thành năm 2008.

nguồn: kienviet.net/bai-viet/chi-tiet/cong-nghe-duc-san-bang-bong-nhua/

22 tháng 10, 2009

Nhà ở vùng bão lụt - các mẫu nhà




Nhà ở cho vùng bão lụt - hình











Nhà ở vùng bão lũ




Xây dựng nhà ở vùng bão lũ


*** Nguyên tắc cơ bản: “Neo – Giăng – Liền khối”.

Tường chịu lực và mái là 2 điểm trọng yếu của nhà khi đương đầu với gió bão.

  • Phải tránh nhà mảnh và dài. Đơn giản nhất là mặt bằng hình vuông và hình chữ nhật có chiều dài không lớn hơn 2,5 lần chiều rộng.
  • Mặt bằng các bộ phận tránh bố trí tạo túi hứng gió như mặt bằng hình chữ L, chữ T và chữ U.
  • Về tổng thể phải có liên kết chặt chẽ, liên tục cho các kết cấu từ mái tới móng theo cả 2 phương ngang và phương thẳng đứng.
  • Cần ưu tiên hệ kết cấu gồm cột và dầm, tạo ra một lưới không gian có độ cứng tốt.
  • Hệ kết cấu càng đơn giản càng tốt; nên dùng cột chống đứng bên trong nhà và những vùng mở rộng.

*** Vị trí xây dựng:

  • Chọn vị trí an toàn, không xây gần mép sườn dốc hay nằm lưng chừng đồi thung lũng trống+hướng ra biển theo tuyến thẳng (nhà sẽ “hứng đủ” hiệu ứng hầm gió- gió sẽ công phá tất cả vật trở ngại trên đường đi của nó theo hướng di chuyển thẳng)
  • Không nên làm nhà tại nơi trống trải, giữa cánh đồng, ven làng, ven sông, ven biển, trên đồi cao hoặc giữa 2 sườn đồi, sườn núi; tránh bố trí các nhà thẳng hàng, dễ tạo túi gió hoặc luồng xoáy nguy hiểm...
  • Nên chú ý lợi dụng địa hình, địa vật để chắn gió bão cho công trình,
  • Xây tập trung thành từng khu vực, bố trí các nhà nằm so le với nhau.
  • Xây tối thiểu 02 gian nhà kiên cố khung bê tông cốt thép (BTCT), có móng.

** KC móng:

  • Nền móng phải được đầm chặt hoặc đóng bằng cọc tre, đảm bảo chắc chắn, đủ sức chịu được tải trọng lớn, độ giật cao.
  • Có thể sử dụng giằng móng để tạo khả năng chịu lực tổng thể theo các phương.
  • Chú ý lựa chọn vật liệu làm móng: móng chịu được bão là móng đá và móng gạch đất sét nung xây bằng vữa tam hợp hoặc xi măng - cát; móng trụ tre, luồng, gỗ cũng có khả năng chống bão lụt, tuy nhiên khi sử dụng cần có biện pháp cấu tạo để giữ ổn định chung cho cả ngôi nhà.

** Tường

  • Phải đảm bảo độ bền chịu gió đẩy và gió hút, chống lật, không bị biến dạng;
  • Phải đủ sức truyền tải trọng từ bên trên xuống móng qua các liên kết.
  • Phải có giằng chéo trong tường và các góc tường khi tường yếu – hệ giằng BTCT để liên kết chắc chắn các tường với nhau, đồng thời tạo chỗ liên kết tốt với mái.
  • Độ dày tường min = 200. Gạch và mác vữa xây phải đảm bảo cường độ chịu lực. Cần xây tường bằng vữa vôi có pha 50 kg xi măng hoặc 20 kg tro rơm, trấu/m3 cát xây.
  • Chân tường đổ bêtông tỷ lệ 1:3:6 với các thanh cốt thép ở các góc và chỗ các bức tường giao nhau, các góc cửa đi, ô cửa lớn và các vị trí trung gian.
  • Tường ngang: cần bố trí thêm để tạo không gian phòng vừa để tăng cường độ chống chịu cho công trình. Khoảng cách các tường ngang, tường dọc nên <>
  • Tường khung gỗ vách gỗ với hệ khung không gian có khả năng chịu gió bão tốt.
  • Các loại tường khung gỗ tre, vách liếp tre có lớp trát hoặc không có lớp trát chỉ nên coi là phương án tạm thời khi chưa có đủ điều kiện kinh tế, do vậy phải thực hiện các giải pháp chống đỡ trước cơn bão.
  • Với tường gỗ / tre: móng có kết cấu tương tự với các thanh đinh ốc có đkính 12mm bắt vào các thanh gỗ. Gỗ/tre nên có độ bền hoặc phải xử lý tự nhiên hay dùng hoá chất bảo quản. Các cột gỗ/tre nên được chôn vào nền bêtông với độ sâu 25mm để tạo thành móc khoá không bị bão nhổ lên.
  • Tăng cường độ cứng tường:

- Các bức tường gạch dài cần được bằng bổ trụ hoặc bố trí các dầm và các cột liên kết bằng bê tông tổng hợp.

- Tường gạch vượt mái: tăng cường bằng dầm bê tông, neo xuống dưới đế theo các khoảng đều nhau; tại mút khe co giãn và các đầu mút.

- Các sườn tăng cứng tường: cần được bố trí ở các khoảng cách đều nhau từ 2 - 3 m; khi thi công chú ý tạo khe co giãn để tránh ảnh hưởng của giãn nở, dọc trụ tại khe co giãn cần phải gia cường cốt thép theo phương đứng.

- Tường đầu hồi cần được gia cố hợp lý, có thể bố trí một dàn mái tại tường đầu hồi.

- Để hạn chế hư hỏng cho các loại tường xây do mưa bão tạt hoặc lũ khi triều dâng, cần sử dụng lớp trát có đủ độ bền nước: lớp trát bằng vữa vôi tỷ lệ 1:4,5 hoặc 1:5, có pha thêm 50 kg xi măng hoặc 20 kg tro rơm, trấu/m3 cát xây.

** Mái nhà:

  • Vật liệu:

- Cần sd vật liệu lợp, kèo, xà gồ mái đúng quy cách, đảm bảo chịu lực và liên kết chắc chắn với nhau.

- Mái BTCT là tốt nhất.

- Để đảm bảo độ bám của vật liệu lợp mái, cần chú ý tấm lợp phải neo chặt vào xương mái. Nên sử dụng ngói có lỗ buộc và tăng cường liên kết của hệ kèo, xà gồ.

- Với mái rơm, rạ, nên đan phên, cót ép vào nhau thành lưới ô vuông đặt trên mái. Ghìm và đè vào các thanh kèo bằng các cây tre, nứa. Cạnh mái phải được ghìm vào cầu phong, xà gồ hoặc kèo bằng dây thép...

- Nếu lợp tôn thì phải sử dụng tôn dày ít nhất 0,45mm; tôn được vít chặt vào xà gồ với khoảng cách 20- 30cm.

  • Tăng cường độ cứng mái:

- Bằng cách sd hệ giăng mái.

- Nên có giằng chéo ở các góc mái.

- Đối với các công trình ngói không neo đã xây dựng, có thể hạn chế hư hại bằng kê vữa phần mũi viên trên vào phần gáy viên dưới ở các vùng riềm mái, 3 - 4 hàng sát bờ nóc, bờ chảy và làm trần hiên bằng cót hoặc tre.

- Xây hàng gạch chỉ chạy dọc theo độ dốc mái cách nhau 0,9 - 1,2 m để chống tốc mái.

  • Độ dốc mái: 30 – 40o để làm giảm ảnh hưởng khi bị gió hút và nhấc lên. Mái dốc phải có trần, độ dốc mái nên lấy từ 20 - 30 độ.
  • Nên tách riêng KC mái che hiên với KC nhà khi thi công.
  • Mái nhà không nên để nhô ra ngoài tường quá nhiều; mái có bờ mép thay vì mái có đầu hồi
  • Kèo, xà gồ phải được neo chắc chắn vào tường chịu lực tại vị trí giăng BTCT bằng thép phi 6; khoảng cách các xà gồ nên nhỏ hơn 1m.
  • Xà gồ, cầu phong, li tô phải neo chắc với kết cấu mái và tường hồi.
  • Dùng dây thép buộc vào li tô, cầu phong, vì kèo phải được liên kết xuống tới móng.
  • Kèo đỡ bằng gỗ nhóm 1 - 2, mộng cứng. Giữa các kết cấu phải có giằng liên kết theo 2 phương đứng và ngang.
  • Không nên sử dụng những dạng mái nhà có thể tạo dòng rối cục bộ. Nên sử dụng mái hiên rời, giảm sự thò dài của mái.
CỬA ĐI VÀ CỬA SỔ
  • Đối với các ngôi nhà có nhiều lỗ thông hơi, lỗ thoáng trên cửa sổ hoặc trên các mảng tường trước khi có bão đến cần phải tìm cách bịt kín để tránh gió vào nhà. Đối với nhà chưa có trần cho hiên và diềm mái, dùng tôn hoặc ván gỗ đóng che phía dưới xà gồ
  • Cửa càng kín gió chống bão càng tốt. Tốt nhất là dùng bản lề chôn sâu vào tường hoặc dùng loại cửa đẩy, cửa lật
  • Khung cửa phải có thép đuôi cá và cửa phải được chèn cẩn thận vào tường. Cửa liếp, cửa gỗ nên gia cường thêm các thanh chữ Z buộc hoặc đóng đinh cẩn thận.
  • Đối với cửa kính phải chốt chặt, dùng vật liệu (gỗ hoặc xốp) chèn chặt khoảng giữa tấm kính và song cửa. Có thể dùng băng keo dán 1 phần hoặc toàn bộ tấm kính

20 tháng 10, 2009

10 nguyên tắc xây nhà chống bão

10 nguyên tắc xây dựng
nhà an toàn chống bão
do DW (Dự án phòng, chống thiệt hại về nhà ở do bão gây ra ở miền Trung - Việt Nam) nghiên cứu đúc kết và áp dụng
  1. Chọn địa điểm thích hợp để tránh lực tác động của gió;
  2. Xây dựng nhà ở đơn giản để tránh áp lực âm;
  3. Xây dựng mái nghiêng với một góc 30 - 45 độ để tránh khỏi bị tốc mái, tránh làm mái đua rộng;
  4. Mái hiên nên tách rời phần nhà chính;
  5. Đảm bảo giằng các bộ phận: Nền móng, tường, kết cấu mái và kết cấu bao che đều được liên kết và neo giữ chắc với nhau;
  6. Gia cường hệ tam giác ngang và đứng (thang chống chéo) của khung sườn;
  7. Đảm bảo các tấm mái lợp được giữ chặt vào cấu trúc mái để tránh khỏi bị tốc gió;
  8. Kích thước các lỗ cửa ở các tường đối diện phải như nhau;
  9. Cửa đi, cửa sổ phải khít, đủ then, chốt để khoá, giằng được;
  10. Trồng cây xung quanh nhà để chắn gió.

16 tháng 10, 2009

Chống ẩm, chống thấm cho móng-tường


CHỐNG ẨM và CHỐNG THẤM

1. Chống ẩm cho tường

* Móng nhà luôn ẩm do nước trong đất dẫn lên → làm ẩm tường , mặt tường bị phá hoại, vữa trát bị bong và ảnh hưởng tới đk vệ sinh trong nhà.

* Kỹ thuật: tráng 1 lớp vữa ciment mác 75, dày 20 ở mặt cổ móng tiếp giáp với tường nhà (nếu có dầm BTCT thì ko cần tráng). Nếu nhà có tầng hầm/ sàn bằng gỗ thì lớp chống ẩm phải ở dưới dầm chống mục cho sàn.

2. Chống thấm cho công trình ngầm

Cần xử lý chống thấm tuỳ mức độ cần thiết và trh cụ thể cho cac2 công trình tầng hầm hay bể chứa.

· Trh mực nước ngầm dưới nền tầng hầm:

- Trát vữa ciment mác 75, dày 25 ở mặt trong và nền tầng hầm.

- Trát 2 lớp: lớp I dày 15, có khía quả trám → đợi khô → trát lớp II dày 10.

- Nếu y/c chống thấm cao hơn: phía trong đổ thêm 1 lớp bêtông chống thấm dày 40, mác 200 và phía ngoài đắp đất sét dày 300 – 400.

· Trh mực nước ngầm cao hơn nền tầng hầm:

- Làm hạ mực nước ngầm: làm hố thu nước,

- Đồng thời phía ngoài đắp đất sét dày 300 – 400,

- Phía trong tráng vữa ciment 2 lớp hoặc đổ BTCT dày 40, mác 200.

25 tháng 9, 2009

Tường nhà



/_ / -/ _/- /_ /- Tường nhà / -/_ / -/ _/- /_

Tường không chỉ tạo ra bộ mặt bên trong mà còn là hệ thống bảo vệ và phân chia không gian.

Trước đây, tường dùng để chịu lực là chính nên phải xây khá dày, việc trổ cửa phải tránh làm tường yếu đi. Ngày nay, khung bê tông cốt thép cho phép bố trí tường linh hoạt, tường không giữ nhiệm vụ chịu lực nữa.

Một số lưu ý:

  • Tường thu hồi mái: nhất thiết phải có đà giằng và có mũ che đỉnh tường để đảm bảo an toàn, chống tải trọng gió và tác động bên ngoài làm hư hại tường.
  • Tường rào xây phải có móng đà kiềng để tránh lún sụp. Không xây tường quá dài trên mặt đất (> 4m) mà không có cột. Không xây quá cao (> 3m) mà không có giằng.
  • Hai bức tường song song nhau ở một khoảng cách hẹp: nên trổ cửa sổ/ lỗ thông gió ở 1 bên để tránh tình trạng “sơn xuyên” (hút gió qua vách nén hẹp) gây gió lùa không tốt.
  • Nhà ở trong vùng gió mạnh hoặc có đường đân thẳng vào hoặc rào cây xén phía trước – để chuyển luồng gió thành dạng chữ S. Luồng khí bị chặn lại sẽ không phát tán mà phân bố đều hơn, tốt cho người cư ngụ trong nhà.
  • Tường hoa và tường di động: tường hoa là những bức tường có dùng làm thông gió, gạch lỗ thông gió bố trí thành mảnh lớn rất phù hợp với đk khí hậu nhiệt độ nóng ẩm.
  • Màu sắc: ở những vị trí phơi ra nắng nóng, cần sơn tường ngoài màu nhạt và sáng. Những căn phòng rộng và trống trải có thể sd tường bên trong sẫm màu để giữ không khí ấm cúng.

16 tháng 9, 2009

Kính mặt dựng



Giải pháp kỹ thuật cho việc thiết kế kính mặt dựng cho tòa nhà văn phòng cao tầng.

Hiện nay có 3 phương án tồn tại:

1. Stick: đây là giải pháp cổ điển, áp dụng cho các mặt dựng nhỏ, giá thành rẻ và không đòi hỏi chất lượng cao. Đơn giá TB hiện nay khoảng 100$ tùy thuộc vào loại kính. VD: ACB Phan Chu Trinh (HN)

2. Semi Unitized: loại này áp dụng được cho công trình lớn có thể bao bọc xung quanh nhà, thi công nhanh, dễ dàng và khả năng chống nước khá tốt, dễ thay thế các tấm kính hỏng, vỡ.. Đơn giá hiện nay rơi vào khoảng 250$
VD: Tòa nhà Thủ Đô - Trần Hưng Đạo (ngay sát ga HN), Toserco (Ngọc Khánh), tòa nhà Dầu Khí (Láng Hạ - HN)

3. Unitized: loại này khá ổn cho mọi yêu cầu kỹ thuật tuy nhiên việc thay thế kính vỡ trong quá trình sử dụng khá khó khăn, ưu điểm chống nước rất tốt vì ứng dụng giải pháp cân bằng áp suất, khả năng chống động đất cũng rất tốt vì sử dụng khớp treo mềm. Đơn giá TB khoảng 300$
VD: BIDV - Trần Quang Khải (HN), VINACONEX (Láng Hạ - HN)

Đặc biệt khi thiết kế giải pháp mặt dựng cho công trình lớn các bác phải hết sức lưu ý đến vấn đề chống sét và chống tích điện khung nhôm.

__________________