• To be BRAVE is to behave bravely when your heart is faint.
  • So, you can be really brave only when you really ain't.
  • ------------------------- Piet Hein (1905)---------------------

10 tháng 2, 2010

Sàn rỗng Bubbledeck


BubbleDeck là công nghệ sàn có nhiều cải tiến thuận lợi hơn trong xây dựng khi sử dụng các quả bóng bằng nhựa tái chế để thay thế phần bêtông không tham gia chịu lực ở thớ giữa của bản sàn. Công nghệ này làm giảm đáng kể trọng lượng bản thân kết cấu và tăng khả năng vượt nhịp (khẩu độ) thêm khoảng 50%. Với sàn BubbleDeck (BD) phẳng, không cần dầm; liên kết trực tiếp với hệ cột, vách chịu lực và nhiều ưu điểm về kỹ thuật khác.

Công nghệ tấm sàn rỗng chịu lực theo hai phương

Công nghệ này có nguyên tắc cấu tạo cơ bản là tấm lưới thép dưới, bóng rỗng làm từ nhựa tái chế và tấm lưới thép trên. Hệ sàn BD dựa trên công nghệ tổng hợp đã được cấp bằng sáng chế – phương pháp liên kết trực tiếp khối rỗng và thép. Sàn rỗng làm việc hai phương, trong đó các quả bóng nhựa có vai trò giảm thiểu lượng bêtông không cần thiết đối với kết cấu. Bằng cách phối hợp lỗ rỗng tạo ra do trái bóng và chiều rộng của lưới thép; kết cấu bêtông có thể được tối ưu hoá và tối đa việc sử dụng đồng thời các vùng chịu moment uốn và vùng chịu lực cắt.

Kỹ sư Phạm Đắc Nhân thuộc công ty dịch vụ BubbleDeck Việt Nam cho biết, một tấm sàn đặc sẽ gặp rất nhiều vấn đề khi phải vượt nhịp lớn do ảnh hưởng của trọng lượng bản thân. Ưu thế chính của các quả bóng là giảm trọng lượng của tấm sàn. Tải trọng bản thân của sàn BD chỉ bằng 1/3 lần tấm sàn đặc có cùng độ dày và không có ảnh hưởng cường độ uốn và độ võng của tấm sàn. So với tấm sàn đặc, một tấm sàn BD có khả năng chịu lực gấp đôi với 65% lượng bêtông và có cùng khả năng chịu lực với 50% lượng bêtông.

Các dạng sàn và những ưu điểm

Có ba dạng cấu kiện, tấm BD đơn giản được cấu tạo bởi lưới thép dưới, quả bóng và lưới thép trên sau đó sẽ được đổ bêtông tại công trường trên hệ ván khuôn truyền thống. Dạng thứ hai là tấm BD bán lắp ghép có phần dưới của trái bóng và lưới thép dưới được đổ bêtông tại xưởng dày 60mm, phần bêtông đúc sẵn này sẽ thay thế cho ván khuôn tại công trường. Và thứ ba là tấm BD thành phẩm dưới dạng các tấm đúc sẵn toàn khối có thể được cung cấp để thực hiện lắp ghép tại công trường. BD được sản xuất theo sáu dạng tiêu chuẩn theo độ dày tấm sàn (mm): 170 – 230 – 280 – 340 – 390 – 430.

Việc sử dụng BD giúp cho thiết kế kiến trúc linh hoạt hơn, không gian rộng hơn – dễ dàng lựa chọn các hình dạng. Phần mái và độ vượt nhịp lớn sẽ cho diện tích sàn rộng hơn với ít điểm chống đỡ – không dầm, không tường chịu tải và ít cột làm cho thiết kế nhà sinh động và dễ thay đổi. Cũng có thể thay đổi phần thiết kế nội thất trong suốt “vòng đời” của công trình.

Những thông số kỹ thuật đã thí nghiệm và thực nghiệm

Mặt cắt của BD cũng tương tự như những tấm sàn rỗng theo một phương thông thường đã được sử dụng trong 40 năm qua. Tuy nhiên kết cấu của những tấm sàn loại này có nhược điểm là chỉ chịu lực theo một phương nên cần có dầm hoặc tường làm gối tựa suốt chiều dài ở cả hai đầu tấm sàn, vì thế khó thay đổi kết cấu của toà nhà.

Sàn công nghệ mới này có độ an toàn như không bắt cháy, ngăn khói và có thể chịu nhiệt cao hơn so với sàn đặc. Khả năng chịu lửa phụ thuộc vào lớp bêtông bảo vệ lưới thép gia cường. Lực động đất tác dụng lên công trình có giá trị tỷ lệ với khối lượng của toàn bộ công trình và BD đạt chỉ số an toàn do trọng lượng giảm. Sàn BD có khả năng chịu cắt, chịu uốn, cách âm vẫn cao hơn hệ sàn đặc truyền thống.

Về mặt kinh tế, công nghệ mới tiết kiệm vật liệu (tấm sàn, cột vách, móng) đến 50%. Tránh được việc hàn lưới thép ngay tại công trình; giảm mạnh chi phí vận chuyển; lắp dựng đơn giản; thiết kế công trình linh hoạt. Chi phí cho việc sửa chữa, thay đổi thấp và tuổi thọ công trình cao. Kết hợp các ưu điểm trên có thể tiết kiệm đến 5 – 15% chi phí cho toàn bộ công trình.

Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường cũng là lợi thế của công nghệ mới này. Tiết kiệm đến 50% lượng vật liệu xây dựng – 1kg nhựa thay thế hơn 100kg bêtông. Tiêu thụ ít năng lượng – cả trong sản xuất, vận chuyển và thực hiện; ít khí thải trong sản xuất và vận chuyển, đặc biệt là lượng CO2. Không sản sinh ra chất thải – tái sử dụng 100%. Cải thiện điều kiện làm việc, thời gian xây dựng ngắn, ít ảnh hưởng đến xung quanh, ít tiếng ồn trong sản xuất, vận chuyển và lắp dựng. Cũng như tiết kiệm vật liệu, việc giảm tiêu thụ năng lượng và giảm khí thải có thể đạt tới 50%.

Phạm vi ứng dụng sàn BD không giới hạn, từ nhà ở dân dụng, nhà xưởng công nghiệp, villa, khách sạn, cao ốc, trường học... cho đến khu bãi đậu xe đều đáp ứng tốt.

Kỹ sư, giáo sư Jorgen Breuning người Đan Mạch phát minh ra công nghệ
BubbleDeck đã được các nước trên thế giới cấp bằng sáng chế và đạt nhiều giải thưởng quốc tế. Trong bảy năm qua, chỉ riêng Đan Mạch và Hà Lan có hơn 1 triệu m2 sàn sử dụng công nghệ BD đã được thi công. Công nghệ này đã từng tổ chức hội thảo tại đại học Bách khoa TP.HCM. Và chính ông Breuning đến giảng dạy, chuyển giao công nghệ này cho công ty BubbleDeck Việt Nam (số 48/10 Điện Biên Phủ, P.22, Q. Bình Thạnh, ĐT: 08. 35106304). Công trình đầu tiên ứng ;dụng công nghệ BD tại Việt Nam là toà nhà CDC ở Hà Nội, hoàn thành năm 2008.

nguồn: kienviet.net/bai-viet/chi-tiet/cong-nghe-duc-san-bang-bong-nhua/

24 tháng 1, 2010

Quy trinh tu van thiet ke


QUY TRÌNH TƯ VẤN THIẾT KẾ KIẾN TRÚC

Bạn chuẩn bị đầu tư 1 công trình, bạn đang chọn Nhà tư vấn thiết kế tận tâm cho công trình của mình, bạn đang chọn nhà thầu có uy tín, bạn đang băn khoăn vấn đề xin phép xây dựng, thủ tục lập, thẩm định dự án đầu tư
Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra, bạn cần phải có nhà tư vấn để giúp bạn, các bước sau sẽ lần lượt giải đáp những câu hỏi của bạn.

1.Bạn phải tự trả lời câu hỏi “Công trình của mình như thế nào?”

2.Ký kết hợp đồng tư vấn thiết kế: Bạn đến văn phòng để ký hợp đồng và ứng 30% chi phí thiết kế.

2.Phương án Thiết kế sơ bộ: Sau khi nắm bắt ý tưởng của bạn, cùng với kiến thức chuyên môn của mình, chúng tôi sẽ thiết kế phương án sơ bộ.

3. Xin phép xây dựng: Sau khi thống nhất thiết kế sơ bộ, bạn cung cấp cho chúng tôi các văn bản pháp lý liên quan - để KTS.Trần Việt lập hồ sơ Xin giấy phép xây dựng cho bạn.

4.Hồ sơ Thiết kế kỹ thuật thi công:

2. Hồ sơ thiết kế: bao gồm:

1. Phần kiến trúc:

* Mặt bằng trệt, các tầng, sân thượng mái công trình.
* Mặt đứng chính, mặt đứng bên công trình.
* Mặt cắt chi tiết công trình.
* Triển khai chi tiết từng phòng vệ sinh.
* Triển khai chi tiết cầu thang, lan can, balcon.
* Triển khai chi tiết tường phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn.
* Triển khai chi tiết cổng, cửa đi, cửa sổ.
* Mặt bằng lát gạch nền chi tiết các phòng, sân, sân thượng

2. Kết cấu:

* Mặt bằng định vị lưới cột.
* Mặt bằng móng, dầm móng, móng bó nền.
* Chi tiết móng, dầm móng, móng bó nền.
* Mặt bằng cấu kiện các tầng, mái.
* Chi tiết cột, dầm, sàn, mái.
* Chi tiết cầu thang.
* Mặt bằng lanh tô các tầng.
* Thống kê cốt thép.

3. Điện:

* Sơ đồ hệ thống điện.
* Mặt bằng bố trí điện các tầng.
* Mặt bằng bố trí điện trang trí, cầu thang.
* Hệ thống chống sét, báo cháy, camera quan sát (nếu có yêu cầu).

4. Nước:

* Sơ đồ hệ thống nước.
* Mặt bằng cấp thoát nước các tầng.
* Chi tiết cấp thoát nước các phòng vệ sinh.

5. Ăngten, điện thoại, internet:

* Hệ thống điện thoại các tầng.
* Hệ thống ăngten các tầng.
* Hệ thống internet các tầng.
* Các hệ thống kỹ thuật khác (nếu có).

6. Dự toán công trình (nếu công ty thi công):

* Bảng báo giá dự toán công trình.
theo http://www.duandautu.com/?page_id=6

2 tháng 1, 2010

CCHN - Đăng ký KD

DANH MỤC NGÀNH, NGHỀ
CẦN CÓ CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ TRƯỚC KHI ĐĂNG KÝ KINH DOANH
(tính đến ngày 30/7/2008)
I. Ngành, nghề mà pháp luật chỉ đòi hỏi Giám đốc (người đứng đầu cơ sở kinh doanh) phải có chứng chỉ hành nghề gồm:
  1. Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (trong trường hợp không ủy quyền) (Đ.154 Luật Sở hữu trí tuệ; Đ.29 NĐ 103/NĐ-CP ngày 22/9/2006)
  2. Dịch vụ khám chữa bệnh tư nhân; (Thông tư 07/2007/TT-BYT ngày 25/5/2007 của Bộ Y tế)
  3. Dịch vụ khám chữa bệnh y học cổ truyền tư nhân; (Thông tư 07/2007/TT-BYT ngày 25/5/2007 của Bộ Y tế)
II. Ngành, nghề mà pháp luật đòi hỏi cả Giám đốc và người khác giữ chức vụ quản lý trong công ty phải có chứng chỉ hành nghề gồm:
  1. Dịch vụ kiểm toán – 3 CCHN; (Đ.23 NĐ 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004)
  2. Dịch vụ kế toán – 2 CCHN; (Đ.41 NĐ 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004; Đ.2 TT 72/2007/TT-BTC ngày 27/6/2007)
III. Ngành, nghề mà pháp luật yêu cầu có chứng chỉ hành nghề của người giữ chức danh quản lý trong công ty gồm:
  1. Dịch vụ thú y – 1 CCHN; (Điều 63 NĐ 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005)
  2. Sản xuất, mua bán thuốc thú y; thú y thủy sản – 1 CCHN (Pháp lệnh Thú y)
  3. Giám sát thi công xây dựng công trình – 1 CCHN (Đ.87 Luật Xây dựng)
  4. Khảo sát xây dựng – 1 CCHN; (Đ.49 Luật Xây dựng)
  5. Thiết kế xây dựng công trình – 1 CCHN; (Đ.56 Luật Xây dựng)
  6. Hành nghề dược – 1 CCHN; (Đ.14 NĐ 79/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ)
  7. Dịch vụ môi giới bất động sản – 1 CCHN (Đ.8 Luật KDBĐS)
  8. Dịch vụ định giá bất động sản – 2 CCHN (Đ.8 Luật KDBĐS);
  9. Dịch vụ sàn giao dịch bất động sản – 2 CCHN môi giới bất động sản (nếu có Dịch vụ định giá bất động sản thì phải có 2 CCHN định giá bất động sản) (Đ.8 Luật KDBĐS)
  10. Sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật – 1 CCHN; (Quyết định 91/2002/QĐ-BNN ngày 11/10/2002 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT)
  11. Dịch vụ làm thủ tục về thuế - 2CCHN; (Điều 20 Luật Quản lý thuế)
  12. Dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải – 1 CCHN (Quyết định 38/2005/QĐ-BGTVT).
  13. Hoạt động xông hơi khử trùng – 1 CCHN (Đ.3 Quyết định 89/2007/QĐ-BNN ngày 1/11/2007 của Bộ NN&PTNT)
  14. Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp – 1 CCHN (trong trường hợp có ủy quyền) (Đ.154 Luật Sở hữu trí tuệ)

1 tháng 1, 2010

Bộ phận phụ


CÁC BỘ PHẬN PHỤ


BẾP LÒ –

TOA KHÓI -

ỐNG KHÓI


ỐNG ĐỔ RÁC




Trong các nhà nhiều tầng, cao tầng thường bố trí ống đổ rác, đặt ở nơi công cộng trong công trình. Nhưng vị trí đặt phải kín đáo, hợp lý.

Có thể xây gạch hoặc đổ bêtông cốt thép. Kích thước ống đổ rác phụ thuộc vào số lượng người sử dụng. Kích thước tối thiểu mỗi chiều là 300-500. Mỗi tầng nhà đều có cửa đổ rác và luôn đậy kín. ống đổ rác phải thông lên mái để thoát hơi


GỜ - PHÀO - CHỈ

Có thể làm bên trong và ngoài công trình, có tác dụng bảo vệ và trang trí cho công trình. Khi thiết kế cần tránh vụn vặn, chắp vá.

Gờ phào chỉ có thể đắp vữa, xây bằng gạch, đổ bêtông hoặc, bằng thạch cao hoặc bằng gỗ. Kiểu dáng, vật liệu làm gờ phào chỉ có thể lựa chọn tuỳ theo tính chất, yêu cầu của công trình.


BỂ NƯỚC NGẦM

Bể chứa nước ngầm có thể xây bằng gạch đặc hoặc đổ bêtông cốt thép. Có thể xây ngầm dưới công trình hoặc xây nửa nổi nửa chìm.

Gạch xây bể phải dùng gạch đặc mác 75, vữa ximăng mác 50-75. Trước khi xây gạch phải được ngâm nước kỹ, mạch no vữa, xây theo kiểu chữ công. Chiều dày tường bể phụ thuộc vào thể tích chứa nước của bể. Đáy bể có thể làm bằng gạch đặc mác 75, bêtông gạch vỡ dày 150-200 hoặc bêtông cốt thép đổ tại chỗ. Nắp bể có thể làm bằng tấm đan bêtông cốt thép hoặc đổ tại chỗ, phải bố trí nắp thăm bể có kích thước tối thiểu 500´500.

Bên ngoài thành bể trát vữa ximăng mác 50, dày 15. Thành bể và đáy bể trát vữa ximăng mác 75, dầy 25, trát làm hai lần, lần đầu dầy 15 có khía bay, lần sau dày 10, sau đó đánh màu bằng ximăng nguyên chất. Đáy bể phải láng dốc về phía rốn bể có kích thước tối thiểu 250´250.


BỂ NƯỚC MÁI

Bể chứa nước trên mái có thể xây bằng gạch đặc hoặc đổ bêtông cốt thép.

Gạch xây bể phải dùng gạch đặc mác 75, vữa ximăng mác 50-75. Khi xây mạch phải no vữa, xây theo kiểu chữ công. Chiều dày tường bể phụ thuộc vào thể tích chứa nước của bể. Đáy bể đổ bêtông cốt thép đổ tại chỗ, cách sàn mái khoảng 300-400 để tránh nước thấm từ bể xuống. Nắp bể có thể làm bằng tấm đan bêtông cốt thép hoặc đổ tại chỗ, phải bố trí nắp thăm bể có kích thước tối thiểu 500´500.

Bên ngoài thành bể trát vữa ximăng mác 50, dày 15. Thành bể và đáy bể trát vữa ximăng mác 75, dầy 25, trát làm hai lần, lần đầu dầy 15 có khía bay, lần sau dày 10, sau đó đánh màu bằng ximăng nguyên chất. Đáy bể phải láng dốc về phía rốn bể có kích thước tối thiểu 250´250.



BỂ PHỐT

Bể phốt thường được đặt dưới phòng vệ sinh. Cấu tạo như bể nước ngầm.

Gạch xây bể phải dùng gạch đặc mác 75, vữa ximăng mác 50-75. Trước khi xây gạch phải được ngâm nước kỹ, mạch no vữa, xây theo kiểu chữ công. Chiều dày tường bể phụ thuộc vào thể tích chứa nước của bể. Đáy bể có thể làm bằng gạch đặc mác 75, bêtông gạch vỡ dày 150-200 hoặc bêtông cốt thép đổ tại chỗ. Nắp bể có thể làm bằng tấm đan bêtông cốt thép hoặc đổ tại chỗ, sau đó dùng nhựa đường đổ bít khe hở giữa những tấm đan bêtông cốt thép lắp ghép.

Bên ngoài thành bể trát vữa ximăng mác 50, dày 15. Thành bể và đáy bể trát vữa ximăng mác 75, dầy 25, trát làm hai lần, lần đầu dầy 15 có khía bay, lần sau dày 10, sau đó đánh màu bằng ximăng nguyên chất. Đáy bể phải láng dốc về phía rốn bể có kích thước tối thiểu 250x250.

Cách tính dung tích khối bể phốt.

* Bể phốt bán tự hoại.

Dung tích khối của bể phốt: ngăn chứa + ngăn lắng. (W = W1 + W2).

Trong đó: W1 = 90.N.n (m3)

W2 = N.30 lít = N.0,030 (m3)

- W1: dung tích phần chứa nước (m3)

- W2: dung tích phần chứa bùn của N người trong 3 tháng.

- 0,030 (m3) là dung tích bùn của 1 người trong 3 tháng.

- 90 là tiêu chuẩn dùng nước của một người.

- N là số người sử dụng.

- n là số ngày để nước dừng lại trong bể.

* Bể phốt tự hoại.

Dung tích khối của bể phốt: ngăn chứa + ngăn lắng.

Số người sử dụng tiêu chuẩn dưới 6 người.

6 ´ 0,250 m3 = 1,500 m3

Số người sử dụng tiêu chuẩn trên 6 người thì:

- Người thứ 7-50: lấy 0,200 m3/người.

- Người thứ 51 trở lên: lấy 0,160 m3/người.

Dung tích khối của ngăn lọc.

- Dung tích khối của vật liệu lọc lấy 0,110 m3/ người sử dụng.

- Diện tích tiết diện ngang bể lọc lấy 0,110m2/người sử dụng.



31 tháng 12, 2009

NVS - How toilets work?

HOW TOILET WORKS

http://home.howstuffworks.com/toilet.htm

It is inevitable that we come to discuss this device, because every home has at least one. But more important, we'll discuss the toilet because it is a technological marvel -- a fascinating water-handling system!

Parts of a Toilet

There are several interrelated components that make a toilet do what it does.

  • Tank
  • Handle
  • Filer Valve
  • Filler Float
  • Overflow Tube
  • Flush Valve
  • Rim
  • Bowl
  • Siphon

If you take off the tank cover and peer inside, you will see all of these parts. They might look slightly different in your particular toilet, but they are all there in one form or another. The three main systems that work together are:

  • The bowl siphon
  • The flush mechanism
  • The refill mechanism

The Bowl Siphon

Let's say that you somehow disconnected the tank, and all you had in your bathroom was the bowl. You would still have a toilet. Even though it has no moving parts, the bowl solves all of the problems a toilet needs to solve. The crucial mechanism that is molded into the bowl is called the bowl siphon, shown here:

You can understand how the siphon works by trying two experiments with your toilet. First, take a cup of water and pour it into the bowl. You will find that approximately nothing happens. What's even more interesting is that you can pour 25 cups (6 L) of water into a toilet, one at a time, and still, nothing will happen. That is, no matter how many cups of water you pour in, the level of the water in the bowl never rises. You can see in the figure why this is the case. When you pour the cup of water in, the water level in the bowl rises, but the extra water immediately spills over the edge of the siphon tube and drains away.

Now, take a bucket of water -- approximately 2 gallons (7.6 L) -- and pour it into the bowl. You will find that pouring in this amount of water causes the bowl to flush. That is, almost all of the water is sucked out of the bowl, and the bowl makes the recognizable "flush" sound and all of the water goes down the pipe. What's happened is this: You've poured enough water into the bowl fast enough to fill the siphon tube. And once the tube was filled, the rest was automatic. The siphon sucked the water out of the bowl and down the sewer pipe. As soon as the bowl emptied, air entered the siphon tube, producing that distinctive gurgling sound and stopping the siphoning process.

You can see that, even if someone were to cut off the water to your bathroom, you could still flush the toilet. All you need is a bucket containing a couple of gallons of water.

The Flush Mechanism

The purpose of the tank is to act like the bucket of water described in the previous section. You have to get enough water into the bowl fast enough to activate the siphon. If you tried to do that using a normal house water pipe, water would not come in fast enough -- the siphon would never start. So the tank acts as a capacitor. It holds several gallons of water, which it takes perhaps 30 to 60 seconds to accumulate. When you flush, all of the water in the tank is dumped into the bowl in about three seconds -- the equivalent of pouring in a bucket of water.

There is a chain attached to the handle on the side of the tank. When you push on the handle, it pulls the chain, which is connected to the flush valve. The chain lifts the flush valve, which then floats out of the way, revealing a 2- to 3-inch (5.08- to 7.62-cm) diameter drain hole. Uncovering this hole allows the water to enter the bowl. In most toilets, the bowl has been molded so that the water enters the rim, and some of it drains out through holes in the rim. A good portion of the water flows down to a larger hole at the bottom of the bowl. This hole is known as the siphon jet. It releases most of the water directly into the siphon tube. Because all of the water in the bowl enters the tank in about three seconds, it is enough to fill and activate the siphon effect, and all of the water and waste in the bowl is sucked out.

The Refill Mechanism

So the bowl will flush as long as we dump enough water into it to activate the siphon. And the purpose of the tank and the flush valve is to hold and then dump about 2 gallons (7.6 L) of water very quickly into the bowl. Once the tank has emptied, the flush valve resituates itself in the bottom of the tank, covering the drain hole so the tank can be refilled. It is the job of the refill mechanism to fill the tank back up with enough water to start the whole process again.

The refill mechanism has a valve that turns the water on and off. The valve turns the water on when the filler float (or ball float) falls. The float falls when the water level in the tank drops. The filler valve (or refill valve) sends water in two directions, as shown in this figure:

Some of the water goes down the refill tube and starts refilling the tank. The rest goes through the bowl refill tube, and down the overflow tube into the bowl. This refills the bowl slowly. As the water level in the tank rises, so does the float. Eventually the float rises far enough to turn the valve off. What would happen if the float were to become detached, or the filler valve were to jam so that it never cut off? Theoretically, the tank would overflow and flood the bathroom. But the overflow tube is there to prevent that from happening, directing the extra water into the bowl instead of onto the floor.

Putting It All Together

Now that you have seen all the parts, you can understand the complete mechanism:

  • Pushing on the handle pulls the chain, which releases the flush valve.
  • About 2 gallons (7.6 L) of water rush from the tank into the bowl in about three seconds. The flush valve then reseats.
  • This rush of water activates the siphon in the bowl. The siphon sucks everything in the bowl down the drain.
  • Meanwhile, when the level of the water in the tank falls, so does the float. The falling float turns on the refill valve.
  • Water flowing through the refill valve refills the tank as well as the bowl. As the tank refills, the float rises, and when it reaches a certain level the refill valve shuts off.
  • Should something go wrong and cause the refill valve to keep running, the overflow tube prevents a flood.