• To be BRAVE is to behave bravely when your heart is faint.
  • So, you can be really brave only when you really ain't.
  • ------------------------- Piet Hein (1905)---------------------

14 tháng 10, 2009

Nhà vê sinh công cộng


Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ P.E (PETECH Science & Technology Corporation) là một Tập đoàn doanh nghiệp khoa học công nghệ của người Việt, có liên doanh với Đức, Pháp, Mỹ,...Trụ sở đặt tại Quận 10, Tp.Hồ Chí Minh
Nhà vệ sinh tự động GC-707AX/Double

A/TỔNG QUAN:
  • Ở các nước trên thế giới và Việt Nam, khi xây dựng – phát triển đô thị, Nhà nước đều chọn lựa theo tiêu chí văn minh, hiện đại và thân thiện với môi trường. Tất cả các tiêu chí đều nhắm đến sự phát triển bền vững. Trong những công trình hạ tầng đô thị, Nhà vệ sinh (NVS) công cộng thuộc về danh mục các công trình thiết yếu và ưu tiên đầu tư. Ở các nước công nghiệp phát triển, hệ thống NVS công cộng đã được hiện đại hóa ở mức cao và đã thay thế hầu hết các NVS đời cũ. Nhà vệ sinh công cộng sạch và thông minh cho Đô thị là chọn lựa tất yếu của nhân loại trong thế kỷ 21.
  • Hòa cùng xu hướng phát triển và hội nhập với Đô thị các nước tiên tiến, các chuyên gia của Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ ( PETECH ) đã thiết kế, chế tạo thành công sản phẩm NVS thông minh. Kể từ năm 2000, những module NVS công cộng thông minh đầu tiên đã ra đời và sử dụng thử nghiệm đạt hiệu quả tốt. Qua suốt 7 năm trải nghiệm, bổ sung công năng, hoàn thiện sản phẩm, đến nay (2007), NVS công cộng tự động của Petech đã khẳng định được chất lượng - hiệu quả và đạt cấp độ công nghệ cao. Do vậy, Toilet thông minh GC-707AX của Việt Nam là đạt đẳng cấp công nghệ “ngang vai“ với những Toilet công cộng hiện đại nhất của các nước tiên tiến trên thế giới.
  • Dòng sản phẩm NVS mang tên Green City với Serie-GC là loạt sản phẩm mới của PETECH. Trong dòng sản phẩm này, GC-707AX là đời mới nhất và đã đạt thành quả ứng dụng hoàn hảo trong thự
B/CÁC CÔNG NĂNG:

GC-707AX có đủ 18 công năng tự động, được chia làm 2 nhóm:
*** Nhóm 6 công năng chủ lực
Các công năng này là nhằm đáp ứng các yêu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của một NVS tự động, thay thế con người đảm đương các công việc nhọc nhằn và mang tính lây nhiễm, gồm:
1. Giội nước tiêu / tiểu tự động sau mỗi lượt sử dụng.

2. Tự động khử mùi hôi và cấp không khí tươi cho người sử dụng.

3. Tự động rửa, sấy, làm sạch bệ ngồi.

4. Tự động xịt rửa sàn.

5. Tự động tiệt trùng bên trong NVS sau mỗi lượt sử dụng.

6. Bể tự hoại công nghệ BIOFASTTM tự động xử lý chất thải để bảo vệ môi trường Đô thị. Đảm bảo tuyệt đối cho GC-707AX không có mùi hôi bên trong lẫn bên ngoài nhà vệ sinh.

  • Với 6 hệ thống công năng chủ chốt nói trên, GC–707AX đã mặc nhiên trở thành một trong những kiểu mẫu NVS công cộng hiện đại nhất thế giới.
*** Nhóm công năng gia tăng tiện ích ( option ) :
GC–707AX có 12 công năng tiện ích. Nhờ các công năng này, GC–707AX sẽ tạo cho khách hàng có được sự thân thiện và thoải mái, gồm:
1.. Tự động thu phí bằng tiền xu, có bộ đếm kỹ thuật số, kèm đồng bộ mạch nhớ để chống reset.
2.. Cửa thông minh, đóng mở tự động và hụ còi cảnh báo khi bị cạy cửa (option).

3.. Thiết bị rửa vệ sinh ( shower / bidet ), tự động định lượng nước theo lập trình.

4.. Tự động thay đổi bệ cầu theo tư thế bệt / xổm, tùy chọn của người sử dụng.

5.. Thiết bị thông minh, tự nói lời nhắc nhở khách hàng, khi gần hết lượt sử dụng.
6.. Tự động phát âm nhạc (FM / MP3) tạo sự thư giãn nhẹ nhàng cho khách hàng.
7.. Lavabô cấp nước rửa tay tự động tiết kiệm nước và đèn chiếu sáng tự tắt để tiết kiệm điện.

8.. Bộ cấp xà phòng rửa tay, tự động định lượng.

9.. Bộ cấp giấy lau vệ sinh, tự động định lượng.

10. Máy sấy tay tự động cảm ứng.

11. Thùng rác thông minh, tự động đóng mở nắp, tự khử trùng bên trong, và nói lời cảm ơn khách hàng (option).

12. Thiết bị tự động lưu điện ( UPS ) có dung lượng acquy đủ để sử dụng 30 lít, hoặc duy trì liên tục 6 giờ khi bị cúp điện.

/// Bồn rửa tay bằng sứ cao cấp lắp âm vách, kèm hệ thống đèn chiếu sáng tự động. hệ thống cấp xà phòng và nước rửa tay tự động định lượng.

/// Bệ ngồi acrylic, tự phát sáng, tự động thay bệ và rửa bệ

/// Vách và trần NVS bằng vật liệu thép inox sọc mịn cao cấp, sang trọng.

/// Các ký hiệu hiển thị và nút bấm chức năng được bố trí to, rõ, đẹp. Linh kiện theo chuẩn CE, rất bền và chịu nước.

/// Máy cấp giấy tự động của Mỹ (USA), có khung bảo vệ an toàn, chắc chắn.

3 tháng 10, 2009

Nền móng - Ploại & các pp gia cố


Nền móng (đất nền).. là lớp đất nằm dưới móng chịu toàn bộ hoặc phần lớn tải trọng của công trình, còn được gọi là đất nền.

CÁC LOẠI NỀN MÓNG

Được chia làm 2 loại (căn cứ vào tài liệu thăm dò địa chất và thử nghiệm cùng tính toán để xử lý nền móng)

  • Đất nền tự nhiên = đất nền có đủ khả năng chịu lực – các lớp đất của chúng vẫn ở nguyên thế nằm cũ khi chịu tải. Ưu điểm loại đất này là thi công đơn giản, nhanh (chỉ cần đào rãnh móng hoặc hố móng phẳng hay hình thang hơi dốc và trải một lớp cát đệm dưới móng → giá thành hạ.
  • Đất nền nhân tạo = đất nền yếu, không đủ khả năng chịu lực, cần cải tạo, gia cố để nâng cao cường độ, sự ổn định, đồng thời giảm tính thấm nước của đất nền… đảm bảo y/c chịu tải từ móng xuống.

CÁC PP GIA CỐ ĐẤT NỀN

Tuỳ theo các đk cơ cấu địa chất và thuỷ văn, có 5 pp gia cố:

1. Nén chặt đất:

· Nén bằng đầm nện – dùng đầm hay các tấm nặng để đầm chặt đất ở hố móng. Có thể trải thêm đá sỏi, đá dăm để tăng cường khả năng chịu lực của đất.

· Nén bằng cọc đất – đóng lỗ để tạo ra quanh lỗ vùng nén chặt → nhồi đất vào lỗ và đầm chặt. Áp dụng cho trh đầm chặt đất lún ướt dưới sâu.

· Hạ mực nước ngầm – tạo hệ thống giếng thu nước hay hệ thống ống tiêu nước có cấu tạo đặt biệt “ống châm kim” → rồi dùng bơm hút nước ra. Đất trong phạm vi thđổi của mực nước ngầm sẽ được nén chặt lại do áp lực nén tăng lên một cách tương đối. Thêm vào đó, đất sẽ lại chặt hơn nữa do nhờ áp lực thuỷ động hướng xuống.

2. Phương pháp thay đất:

· Lớp đất yếu sẽ được bốc dời đi và thay bằng lớp đất khác/ sỏi, cát.

· Áp dụng khi lớp đất yếu ở trong phạm vi không quá lớn với độ sâu nhỏ.

3. Phương pháp keo kết

· PP: dùng các vật liệu liên kết bơm phụt vào trong đất để

---- Nâng cao khả năng chịu lực của đất,

---- Đồng thời làm cho đất không thấm nước.

· Áp dụng đối với tầng đất có khả năng thẩm thấu nhất định.

3.1 – Ciment hoá, sét hoá và bitum hoá :

- PP : vữa ciment được phụt vào đất để gia cố đất nền cát, đất cuội sỏi, đất nền nứt nẻ, đồng thời để xây dựng các màn chống thấm.

- Để tăng cường nhanh quá trình đông kết hoá cứng của dung dịch ciment, dùng thuỷ tinh lỏng và Cloruc canxi.

- Để tăng cường ổn định, dùng Betonite.

- Bitum hoá : bơm bitum nóng, là pp phụ trợ để lấp nhét các khe nứt lớn trong đá cứng – ngăn chặn sự sói mòn của ciment và sét khi tốc độ chảy của nước lớn.

3.2 – Silicat hoá và nhựa hoá:

- Thường dùng dd Silicat Na và Clorua Ca cho loại đất có hệ số thấm cao; chỉ dùng Silicat Na cho đất có hệ số thấm thấp.

- Áp dụng để gia cố và tạo các màn chống thấm cho các loại đất có nền cát, đất hoàng thổ và đất lún ướt.

4. Phương pháp đóng cọc

· Dùng cọc gỗ/ tre/ thép/ bê-tông cốt thép/ có khi dùng cọc cát đóng xuống đất nền

· Việc đóng cọc làm đất nén chặt hoặc do ma sát giữa cọc và đất làm cho mức chịu tải của đất nền tăng lên. Tuỳ theo cách làm việc của cọc, phân ra 2 loại:

4.1 – Cọc chống: cọc được đóng xuyên qua lớp đất nền bên trên và trực tiếp truyền tải trọng lên lớp đất cứng phía dưới.

4.2 – Cọc ma sát:

- Cọc được đóng đến vị trí lưng chừng trong lớp đất mềm.

- Tác dụng chủ yếu: lực ma sát giữa thân cọc và đất sẽ chống đỡ công trình hoặc làm chặt đất.

- Các công trình dân dụng nước ta thường dùng cọc tre/ tràm. Mật độ trung bình: 25 cọc/m2; ø 80 – 100mm; dài 2,5m (tre) và 4 – 5m (tràm)

5. Phương pháp điện và nhiệt:

· Ứng dụng hiện tượng điện thấm để tập trung, bớm hút nước làm khô đất; đồng thời đưa dung dịch hoá chất vào để làm chắc đất. Các ứng dụng:

· Hạ mực nước ngầm:

- Cho một dòng điện 1 chiều trong đất nền khó thấm, có hệ số thấm: 0,05m/ngày đêm (đất chứa nhiều hàm lượng sét hoặc đất có bồi tích)

- Lực điện thấm sẽ xuất hiện và khối nước ngầm sẽ được bơm thoát từ hệ thống giếng hoặc ống châm kim.

· Điện thấm Silicat hoá:

- Áp dụng cho những loại đất có tính thấm nhỏ (đất dính, đất bùn)

- Dưới tác dụng của áp lực bơm phụt và hiện tượng điện thấm, dd Silicat Na sẽ thấm vào đất nền dễ dàng.

· Phương pháp nhiệt

- Ngtắc: chuyển điện năng thành nhiệt lượng, nung đất nền thành những cọc đất nung dưới móng. Cách khác: bơm hơi nhiệt độ cao vào các lỗ đã khoan sâu. Các lỗ khoan sau đó được trám kín bằng bê-tông hay đắp kín bằng đất.

- Áp dụng chủ yếu với đất nền lún ướt, ít ẩm, có tính thấm vừa phải.

2 tháng 10, 2009

Nền móng nhà cao tầng - cọc Ba-rét


Bài viết chuyên gia

Những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng tầng hầm nhà cao tầng ở Việt Nam

--------------------------------------------------------------

Ở Việt Nam đã, đang và sẽ xây dựng nhiều nhà cao tầng có tầng hầm. Việc xây dựng tầng hầm trong nền đất yếu tại các đô thị có nhiều khó khăn và rủi ro. Đã có nhiều thành công nhưng cũng đã xảy ra những điều đáng tiếc.

GS.TSKH Nguyễn Văn Quảng

KS. Nguyễn Tráng
Công ty APAVE Việt Nam & Đông Nam Á

Trong thời gian gần đây, đã để xảy ra những sự cố nhỏ khi sử dụng tường vây cọc ván thép, xây dựng công trình có 1 đến 2 tầng hầm không hợp lý và đặt biệt là tại TPHCM, sự cố khi xây dựng 5 tầng hầm trong công trình Pacific là rất nghiêm trọng do chất lượng tường trong đất ( Diaphragm Wall) thi công không đạt yêu cầu kỹ thuật
Trong bài báo này, chúng tôi muốn trình bày một số bài học kinh nghiệm về thiết kế vài thi công tường cừ bảo vệ hố đào sâu khi sử dụng cọc ván thép và tường trong đất để xây dựng các tấng hầm nền đất yếu tại các đô thị Việt nam để bạn đoc tham khảo .

I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ

“TƯỜNG TRONG ĐẤT”

Tường trong đất (DW - Diaphragm Wall, Paroi Moulée Dans Le Sol), có người gọi là tường Ba-rét vì tường được cấu tạo bởi những Ba-rét nối với nhau, giữa các Ba-rét cần có giooăng chống thấm. Các ba-rét nối với nhau thành bức tường bằng bê-tông cốt thép ở trong đất.

Dùng giải pháp DW khi xây dựng công trình thiết kế có > 2 tầng hầm trên nền đất yếu trong các đô thị là tốt nhất.

Công nghệ tường trong đất đã được Công Ty Bachy Soletanche thực hiện cho công trình

- Nhà cao tầng SaiGon Centre ( 3 tầng hầm ) từ năm 1994 đầu tiên ở Việt Nam. Sau đó là

- Nhà cao tầng Harbour View (2 tầng hầm ), San Woan (2 tầng hầm),

- Vietcombank Hà Nội ( 2 tầng hầm), Số 7 Láng Hạ ( 2 tầng hầm ) ….

Hiện nay nhiều Cty VN đang sử dụng công nghệ DW để xây dựng tầng hầm.Tuy nhiên có nhiều công trình ít khuyết tật, có thể nghiệm thu được, nhưng cũng không ít các dự án có những sai phạm rất đáng tiếc, cần phải rút kinh nghiệm, VD:

· Tài liệu khảo sát địa chất công trình, địa chất thủy văn thiếu các dữ liệu để thiết kế và có độ tin cậy rất thấp,

· Thiết kế chưa hợp lý,

· Thi công chưa tốt, còn nhiều khuyết tật

Có lẽ trước tiên, chúng tôi xin nêu một bài học đắt giá nhất trong thời gian vừa qua, đó là sự cố công trình tầng hầm PACIFIC tại TP Hồ chí Minh


II. VỀ SỰ CỐ TẦNG HẦM PACIFIC

Từ tháng 10 năm 2007 đến nay, báo chí cũng đã viết nhiều về sự cố công trình này.

1. Mô tả sự cố công trình

Công trình cao ốc Pacific có 5 tầng hầm, 1 tầng trệt và 18 tầng lầu.

Tường tầng hầm bằng bêtông cốt thép, dày 1m, thi công bằng công nghệ DW.

Khi đào đất để thi công tầng hầm thứ 5 thì phát hiện một lỗ thủng lớn ở tường tầng hầm có kích thước 0,2m x 0,7m, dòng nước rất mạnh kéo theo nhiều đất cát chảy từ ngoài vào qua lỗ thủng của tường tầng hầm. Công nhân đã dùng hết cách, nhưng không thể bịt được lỗ thủng. Nước kéo theo đất cát chảy ào ào vào tầng hầm, công nhân phải thoát khỏi tầng hầm để tránh tai nạn có thể xảy ra.

Sự cố công trình này đã làm sụp đổ hoàn toàn công trình Viện nghiên cứu Khoa học xã hội Nam Bộ ngay bên cạnh, tòa nhà Sở Ngoại Vụ cũng bị lún nứt nghiêm trọng, Cao ốc YOCO 12 tầng và các tuyến đường xung quanh công trình Pacific cũng có nguy cơ bị lún nứt.

2. Nguyên nhân sự cố

· Chất lượng thi công tường tầng hầm không tốt. Lỗ thủng lớn ở tường tầng hầm có thể là do đổ bê tông không đúng quy trình và dùng Bentonite không đúng yêu cầu gây sạt lỡ đất ở hố đào. Đất cát sạt lỡ lẫn với Bentonite chèn vào bêtông làm cho bêtông bị rời xốp tạo nên lỗ thủng.

Kinh nghiệm: Đất bên ngoài tầng hầm là cát pha bão hoà nước, là loại cát chảy, nên phải dùng loại Bentonite đặc biệt có dung trọng d = 1.15g/cm3 chứ không được dùng loại thông thường cho đất loại sét có d = 1.04g/ cm3

  • Mặt khác, mực nước dưới đất bên ngoài tầng hầm rất cao (ở cốt – 1.5m), lỗ thủng ở tường tầng hầm ở độ sâu -20m, tức là có cột nước với áp lực lớn chênh nhau đến 18,5 mét. Với một cốt nước, có áp lực 18.5atm như vậy, chứa đầy trong tầng các bồi tích hạt nhỏ và các pha bão hòa nước, thì khi có lỗ thủng ở tầng hầm cho nó thoát, dòng chảy sẽ rất mạnh kéo theo đất cát chảy vào tầng hầm đồng thời làm rỗng xốp, làm xói lỡ và phá hoại đất nền của móng các công trình lân cận, khiến cho các công trình đó bị biến dạng, bị sụt lún, thậm chí bị phá hoại.

III. KIẾN NGHỊ

A. Về mặt kỹ thuật:

  • Nâng cao chất lượng công tác khảo sát địa chất công trình và địa chất thuỷ văn. Đảm bảo có đủ số liệu tin cậy về cấu tạo địa tầng, các chỉ tiêu cơ lý, động thái và tính chất hoá học của nước dưới đất cho việc xử lý nền móng và thiết kế cũng như thi công phần hầm ngầm.
  • Lưu ý khi dùng cọc ván thép hoặc cọc lắc xen để làm tường cừ chống giữ thành hố đào sâu:

- Chỉ nên dùng cọc lắc xen cho hố đào có chiều sâu nhỏ hơn 10m, ví dụ cho 1 đến 2 tầng hầm.

- Phải cắm được chân của tường vây vào tầng đất loại sét (sét hoặc sét pha) tốt (dẻo cứng, nửa cứng) để đảm bảo không cho nước dưới đất xâm nhập vào tầng hầm.

- Nên dùng cọc lắc xen tốt, không bị cong vênh để tránh nước thấm vào hố đào qua tường vây.

- Cần cân nhắc xem khi nào thì dùng cọc ván thép làm tường cừ tạm thời hay vĩnh viễn để tránh trường hợp khi rút tường cừ lên sẽ làm lún nứt các công trình xung quanh

  • Nếu dùng tường trong đất làm tường tầng hầm thì cần chú ý những điều sau đây:

- Tường trong đất cần thiết và hiệu quả cho công trình có hố đào sâu trên 10m (ví dụ như nhà cao tầng có từ 2 tầng hầm trở lên).

- Chân của DW phải đặt vào tầng đất loại sét tốt (sét, sét pha), có trạng thái dẻo cứng, nửa cứng và cứng để đảm bảo ổn định cho tầng hầm và chống thấm tốt cho hố đào sâu.

- Dùng Bentonite thích hợp để tránh sạt lở hố đào. Nếu nền đất loại cát nhỏ và cát pha bão hòa nước thì phải dùng loại Bentonite đặc biệt có dung trọng d = 1.15g/cm3.

- Thực hiện nghiêm túc qui trình thi công bêtông để đảm bảo chất lựơng , tránh khuyết tật và bêtông xấu.

- Phải kiểm tra chất lượng bê tông (tốt nhất là dùng phương pháp sonic) đầy đủ số lượng theo tiêu chuẩn (≥25 %) để phát hiện được các khuyết tật bêtông (nếu có ) và có biện pháp xử lý kịp thời .

- Ba-rét: phải có giooăng chống thấm tốt giữa các barét, và chất lượng bêtông tốt ,đặc chắc với mác ≥300 của từng barét thì mới đảm bảo chống thấm tốt cho công trình ngầm.

- Nếu mặt bằng hẹp thì có thể dùng phương pháp chống đỡ bằng khung thép hình, bằng phương pháp Tops down toàn phần để đảm bảo ổn định cho tường tầng hầm.

- Khi mặt bằng tầng hầm lớn thì có thể dùng phương pháp Tops down từng phần hoặc dùng neo trong đất để ổn định tường tầng hầm.

Khi dùng phương pháp Tops down , phải chú ý đặt ống vách tạm thời khi đổ bêtông dưới cốt đáy tầng hầm cuối cùng ( sâu nhất) ít nhất là 2m và hàn cố định thanh thép hình (Kingpods)vào khung lồng cốt thép của cọc khoan nhồi, hoặc tốt nhất là cọc Barét đến 1/3 chiều dài cọc để đảm bảo bê tông tốt cho cọc và định vị chính xác cho thép hình (Kingpods).

- Khi bơm hút hạ mực nước ngầm phải chủ ý đảm bảo ổn định của các công trình lân cận.

B. Về mặt quản lý:

· Cần cân nhắc khi cấp phép cho việc xây dựng công trình ngầm trên nền đất yếu trong các đô thị, nhất là các công trình ngầm có chiều sâu trên 10m, hoặc nhà cao tầng có 3 tầng hầm trở lên.

· Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm trong việc đấu thầu, chỉ định thầu để chọn được các pháp nhân khảo sát, thiết kế và thi công có đủ năng lực về:

- Nhân sự,

- Trang thiết bị,

- Trình độ và kinh nghiệm,

- Thành tích tốt trong quá khứ…

để đảm bảo chất lượng công trình, tránh những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra.

· Phải nghiêm túc thực hiện chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 07/2007/CT.BXD về tăng cường quản lý chất lượng và bảo đảm an toàn khi xây dựng tầng hầm nhà cao tầng.

· Có 2 vấn đề phải đặc biệt chú ý.

- Phải có tư vấn độc lập đủ trình độ và kinh nghiệm thẩm định thiết kế, biện pháp thi công phần ngầm của công trình để đảm bảo chất lượng và an toàn. Ví dụ: các chuyên gia đầu ngành về địa kỹ thuật, về kết cấu công trình và về thi công.

- Phải đảm bảo chất lượng và an toàn không những cho bản thân công trình mà phải đảm bảo an toàn và ổn định cho các công trình lân cận.

1 tháng 10, 2009

KC chịu lực nhà DD 1 - Lưu ý khi chọn ph.án



Các lưu ý khi chọn

phương án KC chịu lực của nhà:

cần kết hợp các y/c về

1. Về phương diện chịu lực:

  • Hợp lý: tuỳ từng loại công trình mà ta chọn vật liệu và hình thức KC. Bảo đảm tính chất làm việc của công trình: ổn định, đủ cường độ, bền chắc.
  • Dễ dàng thi công: tuỳ theo từng nơi, tình trạng trang thiết bị và đk thi công mà chọn KC chịu lực cho phù hợp, bảo đảm thi công dễ dàng, đúng chất lượng y/c của công trình.
  • Giá thành hạ, nhưng phù hợp các chỉ tiêu kinh tế đề ra.

2. Về phương diện kiến trúc:

Khi chọn phương án chịu lực của nhà, cần kết hợp với y/c Ktrúc:

- Y/c sử dụng của ngôi nhà

- Y/c bố cục mặt bằng, dây chuyền

- Y/c của nghệ thuật xử lý mặt đứng.

3. Về phương diện cấu tạo

- Tường và mái phải có khả năng giữ nhiệt và cách nhiệt nhất định;

- Sàn và vách ngăn phải cách âm cao;

- Hình thức cấu tạo giản đơn;

- Các cấu kiện dùng rộng rãi;

- Trọng lượng các cấu kiện không quá lớn, hợp với đk thi công.

HỆ THỐNG CHỊU LỰC CỦA NHÀ DD


  • Hệ thống KC tường chịu lực
  • Hệ thống KC khung chịu lực
  • Hệ thống KC không gian

Nhà DD thông thường có không gian tương đối nhỏ - rộng 3–6m, dài 12–15m, cao 8–9m thường dùng tường chịu lực là chủ yếu. Các loại nhà DD đặc biệt như nhà công cộng có không gian lớn như hội trường, rạp hát… các nhà cao > 5 tầng hay ở những nơi đất yếu: dùng khung bê-tông cốt thép.

Nhà DD - Ph.loại nhà theo vật liệu


PHÂN LOẠI NHÀ THEO VẬT LIỆU

Tuỳ theo vật liệu làm kết cấu chịu lực chính của nhà (dầm, cột, sàn, hệ thống KC mái), phân thành:

1. KC GỖ

  • Hệ thống chịu lực chính làm bằng gỗ. Thường chỉ có tác dụng bao che và ngăn cách.
  • Tính cứng, tính bền lâu kém, tốn nhiều gỗ → chỉ dùng ở những nơi nhiều gỗ và ở nông thôn.

2. KC BÊ-TÔNG CỐT THÉP

  • Hệ thống chịu lực chính làm bằng bê-tông cốt thép. Tường không chịu lực, chỉ có tác dụng bao che.
  • Hệ thống KC này tốn nhiều thép và ciment, giá thành cao → chỉ thích dụng đv nhà công cộng, nhà nhiều tầng.

3. KC THÉP

  • Hệ thống chịu lực chính là dầm thép, cột thép, vì kèo thép; tường và sàn làm bằng vật liệu khác.
  • KC này trọng lượng nhẹ, khả năng chịu lực cao, bền lâu
  • Nhưng tốn nhiều thép. Nhà dân dụng nói chung ít dùng KC này.

4. KC HỖN HỢP

1.1 KC gạch – gỗ:

  • Vì kèo gỗ, sàn gỗ, tường gạch hoặc gạch chịu lực.
  • So với KC GỖ thì loại này cứng và bền hơn; nhưng so với KC khác thì lại kém.

→ → ít hoặc chỉ dùng cho nhà một tầng.

2.2 KC bê-tông – gạch:

  • Sàn mái = bê-tông cốt thép, tường = gạch
  • Loại này kiên cố, bền chắc, phòng hoả và phòng ẩm tương đối tốt.
  • So với KC bê-tông cốt thép thì giá thành rẻ hơn, tiết kiệm được ciment và thép

→ → KC này được sd tương đối nhiều

3.3 KC bê-tông cốt thép và thép:

  • Mái dàn = thép, Dầm, cột = bê-tông cốt thép.
  • Loại KC này kiên cố, bền chắc, chịu được nhiệt độ cao, thuận tiện cho việc công nghiệp hoá.

→ → dùng nhiều cho các công trình công nghiệp, nhà có nhiều chấn động lớn.